Home / Natural Laws / Hermetic Philosophy – Triết học Kỳ bí

Hermetic Philosophy – Triết học Kỳ bí

(Bài chứng minh sự tương đồng giữa minh triết cổ xưa và các học thuyết hiện đại)

The Kybalion: Triết học Kỳ Bí (Hermetic Philosophy) là tên cuốn sách chứa bảy giáo lý bí truyền của Ai Cập cổ đại. Được xuất bản vào năm 1908 bởi Three Initiates, Kybalion phản ánh những quy luật mà Hermes Trismegistus – người đi đầu và là nhà sáng lập của những tri thức cổ đại. làm cơ sở cho triết học Hermetic. Nhiều nhà thần học như Augustine đã phát biểu rằng Hermes Trismegistus là người đã tiên đoán được sự ra đời của Thiên Chúa Giáo. Tên Hermes Trismegistus còn có nghĩa là Thrice Great (Bộ Tam Vĩ Đại) vì ông nắm giữ ba chiếc chìa khoá bí mật minh triết để hiểu thế giới: giả kim thuật, chiêm tinh học và thần bí học.

Triết học Hermetic dựa trên bảy quy luật. Tính ứng dụng của quy luật này là ở chỗ nó là tiền đề cho thuật giả kim tâm trí, hay cũng được gọi là tâm lý học huyền bí. Ngoài ra, nó cũng là một phương thức tư duy. Không có nơi nào mà ở đó các quy luật này không vận hành. Nó bao trùm không gian lẫn thời gian. Bảy quy luật này cũng giúp chúng ta có cái nhìn tổng quan về minh triết cổ đại; nó độc lập khỏi những hệ tư tưởng và phản ánh quy luật vũ trụ. Chúng ta hãy cùng điểm qua lần lượt bảy quy luật này và xét xem nó có liên hệ gì với những học thuyết hiện đại về triết học, phân tâm học và vật lý học hiện đại.

Quy luật đầu tiên được gọi là quy luật về tâm trí. Thế giới xung quanh ta đều là sản phẩm của tâm trí. Hay nói cách khác, chính ý thức của chúng ta về đời sống đã tạo ra thế giới. Ý thức (consciousness), với Hermes Trismegistus, có một tầm quan trọng tối thượng, bởi nó tạo ra thế giới xung quanh mà chúng ta cảm nhận được bằng các giác quan. Nếu nhìn sâu hơn vào quy luật này, nó tạo ra một kết quả rằng không hề có một Đấng Toàn Năng dùng năng lượng để điểu khiển thế giới hay tạo ra nó như các tôn giáo hay các chế độ độc tài thường nói. Tương quan với những ý tưởng hiện đại, Arthur Schopenhauer, nhà triết học bi quan người Áo đã viết một tác phẩm “ Thế giới như là ý chí và biểu tượng”. Ở tác phẩm này, Schopenhauer nói rằng thế giới xung quanh ta chỉ là sự tượng trưng cho tâm trí của bản thân. Ngay từ đầu tác phẩm, Schopenhauer đã khẳng định: “thế giới là sự tưởng tượng của tôi”. Vậy, không hề có thực tại khách quan nào ở bên ngoài. Một ví dụ nổi tiếng được mô tả trong hình ảnh: “a pipe is not a pipe”. Chúng ta không biết về cái đẩu thuốc, chúng ta chỉ biết sự tưởng tượng của mình về cái đẩu thuốc mà thôi”. Xét về tính ứng dụng của quy luật này, nó có liên hệ mật thiết đến thuật giả kim. Chúng ta thường chỉ được biết rằng nhờ thuật giả kim, có thể chuyển từ kim loại thành vàng. Thực chất đây chỉ là một cách hoán dụ. Điều quan trọng nhất của thuật giả kim là ở chỗ nếu một người thay đổi tâm thức, anh ta thay đổi cả thế giới, bởi thế giới là sản phẩm của tâm trí của anh ta.

Hermetic

Cái tẩu thuốc không phải là cái tẩu thuốc

Quy luật thứ hai được phản ánh trong câu nói: “trên sao, dưới vậy”, hay cũng có thể gọi nó là luật tương ứng. Luật này nói rằng luôn có sự tương quan giữa càng tầng khác nhau của cuộc sống. Dù bề ngoài, mọi thứ đều có vẻ khác nhau, nhưng chúng luôn vận hành trong cùng quy luật và nhịp điệu. Một hệ quả tất yếu của quy luật này là chúng ta có thể hiểu nhiều điều chưa biết dựa trên những gì mà chúng ta đã biết. Những gì thể hiện ở bên ngoài ta cũng được soi chiếu ở tâm trí bên trong. Một bộ phim ngắn nổi tiếng “Power of Tens” thể hiện rõ nguyên lý này. Cuộc sống có sự liên hệ mật thiết với nhau, từ mức độ vi mô tới vĩ mô. Hoặc chúng ta có thể hiểu một hệ quả quy luật này dựa trên “hiệu ứng con bướm” (The butterfly effect). Hiệu ứng con bướm có một phát biểu nổi tiếng rằng: “một con bướm vỗ cánh ở Amazon một tuần sau có thể có một trận bão lớn ở Paris”. Nó cho ta hiểu rằng mọi thứ đều có sự liên hệ mật thiết với nhau dù nó có khoảng cách lớn về địa lý.

Một luật khác cũng liên quan tới sự rung động của mọi vật. Quy luật này cũng đã được lĩnh hội bởi một số nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Không vật nào là đứng yên; mọi thứ đều rung động, Lý thuyết này rất tương đồng với lý thuyết dây mới được khám phá gần đây ở vật lý hiện đại. Lý thuyết dây phát biểu rằng những âm thành được tạo nên bởi sợi dây rất nhỏ. Trong cuốn sách “Giai điệu dây và bản giao hưởng vũ trụ”, Brian Greence đã phát biểu rằng thành phần sơ cấp tạo nên thế giới là một “sợi dây rất nhỏ một chiều, na ná như một sợi dây cao su vô cùng mảnh dao động liên hồi”. Vì sợi dây rất nhỏ ấy là thành phần cơ bản, nên nó tạo ra mọi thứ. Nó cũng chứng mình rằng vật chất luôn rung động. Nếu chúng ta dạo quanh trong thế giới lượng tử, vật chất xung quanh sẽ thể hiện hoàn toàn khác so với những vật thể cô đặc chúng ta đang chiêm ngưỡng bây giờ. So sánh giữa khoa học và triết học Hermetic, những người vận dụng quy luật Hermetic đẩy quy luật này đi xa hơn rất nhiều. Kybalion dạy rằng tất cả mọi thứ, từ cảm xúc, ý chí, hay mọi biểu hiện trong tâm tưởng đều có rung động. Chính vì thế nó giải thích tại sao có sự truyền thông tin bằng ý nghĩ, hay sự tác động của tâm trí này trên tâm trí khác.

Hai mặt đối lập cũng là một quy luật khác trong học thuyết này. Mọi thứ đều có hai cực, hay hai cặp đối lập. Để dễ cho trực quan, hãy xét về các mức nhiệt độ: nóng và lạnh. Dù hai tính chất này khác hẳn nhau những nó cùng thể hiện hai mặt của cùng một vấn đề. Hoặc vấn đề tình yêu cũng vậy. Chúng ta vừa ghét vừa yêu người mà chúng ta yêu quí. Không có cái gì là “yêu tuyệt đối cả”. Yêu nhiều thì ghét ít và ngược lại. Phải đợi đến hàng ngàn năm, khi vật lý lượng tử ra đời, chúng ta mới biết rằng quy luật này cũng nằm trong một phần của tư duy mới. Trong logic truyền thống mà Aristotle là người đi đầu, giả sử nếu A đúng thì suy ra B. Hoặc A không thể đồng thời vừa là A vừa là “không-A”. Nhưng vật lý lượng tử đưa ra với thế giới một cách nhìn hoàn toàn khác. Cách nhìn này thừa nhận rằng A vừa là A vừa là “không-A” – một cái gì đó là A ở thời điểm này thì vẫn có thể trở thành không-A ở một thời điểm khác. Chính vì vậy, mọi sự thật đều chứa đựng hai mặt đối lập, hay cũng có thể gọi là hai mặt của một đồng tiền.

Luật thứ năm là luật Nhân Quả. Mọi nguyên nhân đều có kết quả và mọi kết quả đều có nguyên nhân của nó. Luật này nói rằng không có điều gì là bất ngờ hay xác xuất cả, sự bất ngờ đó chỉ là một định nghĩa khi con người không nhận dạng được nguyên nhân mà nó xảy ra. Vậy có thể suy ra rằng nguyên nhân và kết quả luôn gắn liền chặt chẽ với nhau. Nếu hiểu được rõ ràng nguyên nhân của một sự vật, ta có thể hiểu được tác động và hệ quả của nó. Và điều này cũng áp dụng ngược lại. Với luật này, chúng ta đến với Freud, người mở nguồn cho Phân Tâm Học (psychoanalytic). Trong tâm lý học, vai trò của Freud quan trọng tới mức toàn bộ ngành tâm lý học đã thay đổi hoàn toàn xã hội lẫn phương pháp nghiên cứu khoa học của nó. Nếu như trước đây. các bác sĩ chỉ thường nhìn vào triệu chứng của bệnh và cố tìm ra thuốc chữa cho bệnh ấy mà không hề quan tâm đến nguyên nhân của nguồn bệnh, thì Freud đã thay đổi hoàn toàn cách tiếp cận đó bằng cách thay vì đi ngăn cản các triệu chứng bên ngoài, chúng ta phải tìm ra được nguyên nhân của bệnh. Ông khẳng định chỉ bằng cách đó mới có thể chữa cho căn bệnh ấy một cách thấu đáo và triệt để. Vậy, cách tiệp cận của khoa học đã chuyển sang hướng mới: hiểu rõ nguyên nhân mới có thể giải quyết vấn đề.

Quy luật thứ sáu nói về quy luật dao động. Ở đây quy luật này nói rằng một thứ có xu hướng di chuyển từ cực này sang cực khác, từ trái sang phải, từ nổi đến chìm, từ trên xuống dưới, lặp đi lặp lại giống như một con lắc. Quy luật nhịp điệu phổ biến nhất ở lĩnh vực âm nhạc. Tuy nhiên, nó cũng được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống. Hãy xét đến sự chuyển động của vòng tròn (Cirdanian Rhythm): trái đất chuyển động quanh mặt trời, bốn mùa xuân hạ thu đông rồi lặp lại quanh năm, vòng đời của một con người, hay sự thăng trầm của một quốc gia. Mọi thứ chuyển động như một vòng tròn hoàn hảo. Để liên hệ với học thuyết hiện đại, chúng ta hãy xét đến Albert Einstein, người đã làm chao đảo thế giới vật lý thế kỷ 20. Ông tuyên bố rằng khối lượng của vật thể đã làm cho không gian bị “lún” xuống, gây cho không gian xung quanh nó một độ cong. Nhờ lực hấp dẫn và sự cong của không gian, trái đất hút mặt trăng về phía nó. Ngoài ra, tác động con lắc có xu hướng chạy sang bên này và bên kia với cùng một độ dài, thì một người nếu chịu đựng một đau khổ cùng cực, họ cũng có khả năng trải nghiệm phúc lạc lớn lao. Ngược lại, người nào cảm nhận ít nỗi đau họ cũng có thể cảm nhận được niềm vui nhưng ở mức độ thấp hơn. Và một hệ quả nữa của con lắc, là nó có xu hướng tự cân bằng, nên sẽ luôn có sự trả giá. Nếu một người đạt được một thứ gì, chúng ta bị mất đi thứ kia. Người giàu có đủ mọi thứ anh ta cần, nhưng anh ta sẽ mất đi khả năng nếm trải với cường độ tương tự một người nghèo khi trải nghiệm những thứ anh ta đang có.

Luật cuối cùng, thứ bảy, nói về giới tính trong tâm trí. Tất cả mọi thứ đều có tính chất nam và nữ ở bên trong. Giới tính hiện diện trong mọi tầng của sự sống và mọi thứ đều phản ánh hai giới tính. Quy luật nam giới luôn có phẩm chất thể hiện và cho. Nó thể hiện khả năng suy nghĩ, tưởng tượng và hoạt động. Phẩm chất nữ luôn có khả năng nhận và thể hiện ở nhiều thể và dạng hơn phẩm chất nam. Bản thân mỗi chúng ta đều có một phần nam và một phần nữ bên trong mình. Liên hệ với quy luật này, chúng ta hãy cùng nói đến quan điểm về giới tính của Jung. Jung cũng nói đến điều này trong luận điểm về anima, animus của ông. Ông cho rằng mỗi chúng ta đều đi tìm hình ảnh của người đàn bà hay đàn ông bên trong mình. Anima là tượng trưng trong nội tâm cho giới tính nữ trong cơ thể của người đàn ông. Còn Animus là là ngược lại; nó tượng trưng cho tính nam nội tâm trong cơ thể người đàn bà. này là chúng ta cần phải có sự cân bằng giữa giới tính nam và giới tính nữ. Quy luật này phản ánh rằng, thay vì cố gắng thể hiện phần nam hoặc phần nữ chiếm ưu thế, mỗi người phải đi tìm và cố gắng kết nối hai năng lượng này lại, tạo thành một sự hòa hợp bên trong. Nếu phần nam giới chiếm ưu thế, nó có xu hướng trở nên hỗn loạn, quá lý tính, hành động không có giới hạn. Nếu phẩm chất nữ chiếm ưu thế quá nhiều, nó sẽ có xu hướng bị u lì, không hoạt động, hay liên tục thất bại.

Tìm hiểu kỹ những quy luật này, sẽ thấy mỗi quy luật đều chứa đựng sáu quy luật còn lại. Không có quy luật nào là đơn lẻ cả. Chính vì vậy, từ việc thấu hiểu và tập trung vào chỉ một quy luật và biết được sự vận hành và hệ quả của nó, rất có khả năng chúng ta có thể liên hệ nó với những quy luật khác trong cùng một hệ thống. Một lợi ích rất lớn từ việc hiểu biết những quy luật trong Kybalion là giúp cho chúng ta có cái nhìn thấu suôt hơn về cuộc đời của chính mình và tránh được những sai lầm khi thiếu hiểu biết về những quy luật này. Thậm chí, những người vận dụng triết học Hermetic nếu hiểu rõ ràng và đúng những quy luật này, họ có thể thoát khỏi những quy luật và vận dụng nó, thay vì bị nó chi phối. Để bàn thêm sâu hơn về những hệ quả quan trọng khác, ta sẽ bàn đến nó ở trong những bài viết tiếp theo.

Tâm Nguyễn 

Tài liệu tham khảo:

– Giai điệu dây và bản giao hưởng vũ trụ – Brian Greence (NXB Trẻ)

– The Kybalion – The Three Initiates

– Từ xác định đến bất định – David Peat (NXB Tri thức)

 

About Hermes Phạm

Sứ mệnh của chúng tôi là giúp bạn khám phá tấm BẢN ĐỒ TÂM LINH của cuộc đời mình và CHUYỂN HÓA bản thân lên một tầm NHẬN THỨC (Self-awareness) mới thông qua Thần số học (Numerology).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

>